Lưu trữ

Posts Tagged ‘Đảng Cộng sản Việt Nam’

Giữ vững lòng tin của nhân dân

Tháng Mười 5, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”

QĐND – Bài học của tất cả các quốc gia trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị, nếu để mất lòng tin của nhân dân vào chính quyền, sẽ mất tất cả.

Chúng ta đều biết, trong thế kỷ XX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên những chiến công kỳ diệu,  đánh đuổi ngoại xâm, xóa bỏ chế độ quân chủ, đưa nước ta từ xứ thuộc địa nửa phong kiến trở thành Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Đảng cũng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ năm 1986, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, chúng ta tiến hành đổi mới toàn diện đất nước, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, xóa bỏ tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa… từng bước đưa nước ta thoát khỏi khủng khoảng về kinh tế-xã hội. Thành tựu 25 năm đổi mới của Việt Nam được cả thế giới thừa nhận, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, vào sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, một thực tế, đồng thời là một vấn đề gay gắt đặt ra là một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện xa dân, không nghe được tiếng nói của nhân dân, không “lo trước nhân dân, vui sau nhân dân”, không thực sự là “công bộc” của nhân dân, làm nhân dân suy giảm lòng tin.

Đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có lần dẫn thành ngữ “ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa” để chỉ những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, suy giảm phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống. Đó là những người nói rất hay về đạo đức, về văn hóa nhưng chính họ không gương mẫu thực hiện, cơ hội chờ thời, không chấp hành nguyên tắc Đảng. Họ không coi trọng nhân dân, gây phiền hà, bức xúc cho dân, thậm chí có thái độ hống hách, cửa quyền khi tiếp xúc và giải quyết công việc liên quan đến người dân. Họ thờ ơ, lãnh cảm trước khó khăn vất vả, thậm chí là trước nỗi đau của người dân. Nhiều cán bộ cơ sở vô trách nhiệm, không nắm được tình hình địa phương, đơn vị mình, không nắm được nguyện vọng của nhân dân, không quan tâm đến lợi ích của dân, thậm chí ăn bớt, ăn cắp, làm ẩu, làm sai và thông đồng, móc ngoặc bòn rút của công.

Chính những cán bộ, đảng viên, công chức này làm cho xã hội nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc, lòng tin của nhân dân vào Đảng, Chính phủ bị xói mòn.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, lo ngại về sự tha hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên. Trong toàn bộ di sản những bài nói, bài viết của Người để lại, có nhiều trang, nhiều bài Người tiên liệu về thói quan liêu, hống hách xa dân, nguy cơ biến thành “quan cách mạng” của một số cán bộ, đảng viên sau khi đã đồng cam cộng khổ cùng nhân dân giành chính quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sớm chỉ rõ, đó là nguy cơ lớn nhất trong mọi nguy cơ, vì đó là một thứ giặc vô hình từ trong nội bộ tổ chức, từ trong mỗi con người. Đến mùa xuân cuối cùng của cuộc đời mình, Hồ Chí Minh vẫn đau đáu căn dặn: “Nâng cao đạo đức cánh mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Theo Người, chủ nghĩa cá nhân sẽ làm hỏng Đảng, không tập hợp được quần chúng, dẫn đến mất vai trò, mất vị trí cầm quyền.

Đảng ta đã nhận thức rõ vấn đề và thừa nhận một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất. Để giải quyết vấn đề này, cần một tổng thể các biện pháp đồng bộ, quyết liệt từ Trung ương đến chi bộ, từ các đồng chí lãnh đạo cấp cao đến  mỗi đảng viên. Cần thường xuyên tiến hành sinh hoạt trong Đảng với tinh thần phê bình và tự phê bình nghiêm túc để chỉ rõ mối nguy cơ này mà ngăn chặn. Đồng thời cần thật thà tiếp thu, lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân để sửa chữa. Giải pháp rất quan trọng là thường xuyên làm tốt việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Đảng và toàn xã hội. Trong vấn đề này, đặc biệt coi trọng sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên và coi trọng hành động, việc làm hơn lời nói xuông. Một số nội dung cần quan tâm là:

Thứ nhất, cần thúc đẩy xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Toàn xã hội sống, làm việc theo hiến pháp, pháp luật. Các cơ quan công quyền phải quan tâm xây dựng văn hóa công quyền sao cho con người sống với nhau vừa đúng pháp luật, vừa giữ được nét đẹp văn hóa truyền thống của tộc ta. Cần có cơ chế giám sát, quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, công chức. Cần phân loại và đánh giá chính xác cán bộ, đảng viên và có biện pháp quản lý, giáo dục, rèn luyện để mỗi người có cơ hội phát huy những mặt mạnh, mặt tốt đồng thời khắc phục những mặt yếu, những thiếu sót, khuyết điểm trong công tác và trong cuộc sống. Việc đánh giá cán bộ, có nơi làm chưa tốt, mang tính hình thức. Thực tế có nhiều cán bộ tốt, tích cực, âm thầm cống hiến nhưng cũng có nhiều cán bộ trung bình, thiếu trách nhiệm, lười phấn đấu, thậm chí “có vấn đề” về chất lượng công tác, đạo đức, lối sống nhưng biết “quan hệ tốt” vẫn được chiếu cố, bỏ qua khuyết điểm. Nhiều nơi, do cán bộ cấp trên yêu ghét cảm tính, nhìn nhận con người thiếu khách quan, công tâm, làm thui chột những nhân tố tích cực. Bộ máy chính quyền tốt là bộ máy được ví như một tòa nhà bằng kính trong suốt, ở đó ai làm gì đều không qua được mắt nhân dân. Để có “một ngôi nhà bằng kính trong suốt” ấy, cần thúc đẩy cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính để cán bộ thực sự là công bộc của dân, đầy tớ của dân.

Thứ hai, mở rộng dân chủ thực sự. Dân chủ nghĩa là quyền làm chủ thuộc về nhân dân. Nhân dân có quyền biết, bàn, làm, kiểm tra và hưởng lợi. Nhân dân phải có quyền chất vấn chính quyền, chính quyền, cán bộ, đảng viên phải trân trọng lắng nghe và chân thành tiếp thu ý kiến khen, chê của nhân dân. Những vấn đề người dân phản ánh, khiếu nại, kiến nghị phải giải quyết công khai, tận tụy, thấu đáo (nếu người nào cố tình nói sai, có động cơ xấu thì xử lý nghiêm theo pháp luật). Đối với nhân dân, cán bộ mọi cấp cần quán triệt lời dạy của Hồ Chí Minh: Gần dân, trọng dân, tin dân, lo cho dân. Như vậy mới xây dựng được lòng tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền. Lòng tin đã có rồi, thì dù có sóng gió cũng khó lay chuyển được mối quan hệ máu thịt giữa dân và chính quyền, giữa dân và Đảng. Việc xây dựng lòng tin trong nhân dân là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị nhưng trước hết là của các cán bộ cơ sở thôn, xóm, tổ dân phố, xã, phường… những người gần dân, sát dân nhất. Cán bộ cơ sở là hiện thân của Đảng, của chính quyền trước nhân dân hằng ngày.

Thứ ba, công chức phải sống được bằng tiền lương của mình. Công chức là những người được học tập, đào tạo, có trình độ chuyên môn nghề nghiệp, là những cá nhân tiêu biểu xuất sắc trong các tập thể nhân dân. Bảo đảm cho công chức có mức sống bằng mức sống trung bình và cao hơn là công bằng xã hội, tạo cơ sở thực tế cho công chức toàn tâm toàn ý, trong sạch vì việc công. Đời sống công chức khá giả còn là động lực cho lớp trẻ phấn đấu cống hiến cho cách mạng.

Những vấn đề trên cần làm mạnh mẽ, quyết liệt để trong sạch bộ máy công quyền, kết toàn đảng, toàn dân ta thành một khối, vô hiệu hóa mọi tác động tiêu cực.

Xuân Bằng

qdnd.vn

Thiếu thông tin và cái nhìn kỳ thị về tình hình tôn giáo ở Việt Nam

Tháng Chín 20, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND – Ngày 13-9-2011, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã công bố báo cáo phúc trình thường niên về tự do tôn giáo quốc tế, trong đó công bố tên các nước nằm trong danh sách CPC (các nước cần theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo). Đồng thời, báo cáo còn đưa ra danh sách các quốc gia khác đề nghị Chính phủ Hoa Kỳ đưa vào danh sách CPC nhằm “răn đe” những quốc gia này. Danh sách CPC công bố năm nay gồm 8 nước trong đó có: Trung Quốc, Miến Điện, Triều Tiên, I-ran, Ả-rập Xê-út, Xu-đăng, Ê-ri-tơ-ri-a và U-dơ-bê-ki-xtan. Ngoài 8 quốc gia được nêu trong danh sách CPC, Ủy hội Hoa Kỳ về tự do tôn giáo quốc tế còn đề nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa thêm vào danh sách CPC 6 nước khác gồm: Ai-cập, Ni-giê-ri-a, I-rắc, Tuốc-mê-ni-xtan, Pa-ki-xtan và Việt Nam. Lý do được ủy hội này đưa ra là chính phủ của tất cả những nước trên đều vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của người dân một cách nghiêm trọng.

Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách dân chủ, nhân quyền và lao động, ông Mai-cơn Pốt-nơ (Michael Posner) nhận định về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam như sau: Ở Việt Nam “nếu theo một tôn giáo không được chính phủ công nhận, họ còn bị đặt trước nguy cơ bị kỳ thị, bị ngược đãi bằng bạo lực và có khi còn bị bắt bớ”… Trong báo cáo này, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ còn đưa ra nhiều thông tin sai lạc, không đúng sự thật, nhất là đối với một số chức sắc có những hành vi vi phạm pháp luật như tuyên truyền xuyên tạc chính sách của Nhà nước, kích động giáo dân gây mất trật tự công cộng… bị Nhà nước ta xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 14-9-2011, trả lời câu hỏi của phóng viên liên quan đến phản ứng của Việt Nam đối với các nhận xét của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tự do tôn giáo ở Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị nêu rõ: Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho giai đoạn từ tháng 7-2010 đến tháng 12-2010, mặc dù đã ghi nhận những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này,  nhưng vẫn tiếp tục đưa ra những đánh giá không khách quan; trích dẫn những thông tin sai lệch về Việt Nam.

Vì sao khi  nhận xét về Việt Nam, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại viết như vậy? – Đó là vì: Một mặt, Hoa Kỳ tự xem mình là mẫu mực về quyền tự do tôn giáo, đồng thời muốn áp đặt mô hình đó cho các nước, trong đó có Việt Nam. Mặt khác, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã lấy thông tin từ những kẻ chuyên “hành nghề” chống Cộng ở Mỹ cũng như ở Việt Nam. Những người này vốn là những giáo dân hoặc chức sắc có hận thù với cách mạng, như Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, một trong những kẻ cầm đầu cái gọi là “Phong trào quốc dân đòi trả tên Sài Gòn”, hoặc Linh mục Nguyễn Văn Khải… chẳng hạn. Trên thực tế họ đã bỏ bê công việc thờ Chúa, đi làm chính trị với tham vọng dựa vào giáo dân để lật đổ Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Những ai có cái nhìn khách quan thì không thể không nhận thấy: Trong lịch sử Việt Nam chưa có thời kỳ nào lại có chính sách tôn trọng tự do tôn giáo, tín ngưỡng như thời kỳ từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công đến nay, thời kỳ Nhà nước Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.  Lịch sử còn ghi lại rằng, vào thế kỷ XVII, XVIII, chúa Nguyễn và chúa Trịnh đã từng trục xuất các Thừa sai và đàn áp Thiên Chúa giáo. Ngược lại, sau khi bình định áp đặt chế độ thống trị của mình ở Việt Nam, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách phân biệt đối xử giữa các tôn giáo – ưu đãi Thiên Chúa giáo. Dưới chế độ cai trị của thực dân Pháp, nhiều cơ sở Giáo hội đã trở thành nơi tích tụ ruộng đất ([1]). Tương tự như vậy, ở miền Nam khi đế quốc Mỹ cai trị, nhiều cuộc đàn áp các tôn giáo đã từng diễn ra, nhất là đối với Phật giáo, điển hình là cuộc đàn áp Phật giáo ở Sài Gòn và Huế (tháng 5-1963). Hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu để phản đối chính sách bất công của Mỹ và chính quyền tay sai ([2]).

Sau khi Việt Nam được giải phóng, đất nước được thống nhất, các quyền tự do tín ngưỡng của các tôn giáo không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp mà còn được Nhà nước giúp đỡ, khuyến khích, phát huy vai trò xã hội của mình vào sự nghiệp chung của cả dân tộc. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ Bảy (khóa IX) đã khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong cả nước ta”, “Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín, dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia”([3]).

Theo Tổng cục Thống kê, hiện nay Việt Nam có 6 tôn giáo lớn, gồm: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo với số giáo dân lên tới hơn 20 triệu người, chiếm khoảng 25% dân số ([4]). Cũng theo Tổng cục Thống kê, tỷ lệ tăng giáo dân tương tự như tỷ lệ tăng dân số. Như vậy, ở Việt Nam không có chuyện “vi phạm nghiêm trọng” các quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng…, không có chuyện “bắt bớ, đàn áp giáo dân”… Nhà nước Việt Nam không có lợi ích gì để chống lại 20 triệu giáo dân – đồng bào ruột thịt của mình.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới, các tôn giáo đã có những đóng góp to lớn và sự nghiệp xây dựng đất nước, nhất là trên lĩnh vực xã hội, nhân đạo, từ thiện. Nhiều cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, sử dụng y học dân tộc miễn phí; nhiều lớp học tình thương, dạy nghề cho người khuyết tật, người nhiễm HIV, nuôi dưỡng trẻ mồ côi hoặc bị bố mẹ bỏ rơi, cứu giúp đồng bào vùng bị thiên tai,… do các tôn giáo đảm nhận đã góp phần giảm bớt khó khăn cho Nhà nước. Như vậy, ở Việt Nam, cộng đồng các tôn giáo là một thành tố tích cực của chế độ xã hội XHCN. Đó là một thực tế không dễ gì bác bỏ được.

Còn nhớ, năm 2010, cũng vào dịp công bố báo cáo này, Hạ nghị sĩ Mỹ, ngài  Eni F.H.Faleomaveaga không đồng tình về cách đánh giá phiến diện về tự do tôn giáo ở Việt Nam của Bộ Ngoại giao Mỹ. Ngài Faleomaveaga nói: “Tôi không biết những người ở trong Bộ Ngoại giao Mỹ viết bản báo cáo này lấy thông tin từ đâu, bởi vì trong chuyến thăm gần đây đến Việt Nam, tôi đã tham dự một buổi lễ của người theo đạo Thiên Chúa ở ngay giữa trung tâm TP Hồ Chí Minh và không có bất cứ nơi nào mà tôi phải chứng kiến cảnh người ta bị cấm đoán vì lý do tín ngưỡng. Ngay cả chúng tôi cũng đã tiến hành một số hoạt động tôn giáo và hành lễ ngay tại Việt Nam mà không bị Chính phủ Việt Nam gây khó khăn, cản trở gì… Trong các chuyến thăm đến Việt Nam, không có bất cứ nơi nào mà tôi phải chứng kiến cảnh người ta bị cấm đoán vì lý do tín ngưỡng”… Chính ngài Hạ nghị sĩ này đã khuyên Chính phủ Việt Nam:  “Trước tiên, … Chính phủ Việt Nam cần có những phản ứng thẳng thắn đối với những thông tin được viết trong báo cáo này…”. Vậy mà, theo báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ năm nay, tình hình về tự do tôn giáo cũng chẳng có gì khác năm ngoái cả.

Không phủ nhận rằng, ở Việt Nam vẫn còn có một số chức sắc và giáo dân bị bắt và phạt tù. Nhưng họ bị xử phạt không phải vì lý do tôn giáo mà vì họ đã lợi dụng tôn giáo, vi phạm pháp luật; tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; phá hoại chính sách đoàn kết, chống chính quyền nhân dân, kích động, lôi kéo, tụ tập đông người phá rối an ninh, trật tự công cộng…

Cũng như ở nhiều quốc gia khác, tại Việt Nam các tôn giáo bình đẳng với nhau và bình đẳng với những người không có đạo trước pháp luật. Không có chuyện người có đạo được ưu tiên hơn người không có đạo, hoặc tôn giáo này được ưu tiên hơn tôn giáo kia…; không có chuyện một tôn giáo nào đó đòi hỏi Nhà nước phải tuân theo một mô hình tôn giáo ở nước ngoài.

Lại nói về quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ, đáng tiếc vẫn có một số người vừa thiếu thông tin lại vừa cổ hủ và thiển cận. Thiếu thông tin vì họ chỉ lấy thông tin ở những người chống đối Nhà nước; cổ hủ vì họ vẫn cho rằng Hoa Kỳ luôn là siêu cường số một, là người có quyền ban phát và ra lệnh cho các quốc gia khác. Những người này không hiểu rằng, trong thời đại ngày nay, sự phát triển của mỗi quốc gia đều tùy thuộc lẫn nhau, kể cả Hoa Kỳ. Thiển cận là vì người ta không thấy một thực tế là trong quan hệ với Việt Nam không chỉ có Việt Nam được hưởng lợi mà cả Hoa Kỳ cũng được hưởng lợi về nhiều phương diện.

Cũng như các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, sự khác biệt về mô hình nói chung, quan niệm về tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng giữa các quốc gia là điều bình thường. Hoa Kỳ không nên và không có quyền áp đặt mô hình của mình cho các quốc gia khác. Từ những cơ sở cả về lý luận và thực tiễn trên, chắc sẽ giúp những người soạn thảo bản báo cáo trên từ bỏ sự kỳ thị đối với chính sách tôn giáo của Việt Nam. Vì, điều đó chỉ làm tổn hại đến lợi ích của hai dân tộc; tổn hại đến quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đang trong quá trình tiến triển tích cực.

Phương Nhi

[1] . Trần Tam Tính, “Thập giáo và lưỡi gươm”, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1988, tr.78.
[2] . Viện Sử học, “Việt Nam những sự kiện”, Tập I, NXB KHXH, HN.1975, tr.306, 307.
[3] . Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy… NXB CTQG. HN. 2003, tr.46,49.
[4]  Bộ Tư pháp “Việt Nam với vấn đề quyền con người HN.2005, tr.251 – 256.

qdnd.vn

Đoàn kết thì thành công, chia rẽ là thất bại

Tháng Chín 4, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND – Dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 của chúng ta năm nay có một ý nghĩa đặc biệt. Các hoạt động kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 nằm trong chuỗi hoạt động chào mừng những sự kiện quan trọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong năm 2011. Công tác tuyên truyền của các cơ quan truyền thông đại chúng trong nước và kiều bào yêu nước ở nước ngoài là sự cộng hưởng, tiếp nối, liên kết giữa các sự kiện, tạo nên những ngày hội lớn của cả dân tộc, triệu người chung một niềm tin và kỳ vọng.

Cũng bám vào những sự kiện và  vấn đề thời sự trong nước, nhưng thời gian qua, trên nhiều trang mạng và đài phát thanh của hải ngoại đã xuất hiện những bài viết, những cuộc phỏng vấn “chĩa mũi dùi” công kích, xuyên tạc, bóp méo, bôi đen… phê phán sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân ta; dựng chuyện bêu xấu nhằm làm mất uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ… vừa được bầu.

Dễ dàng nhận thấy việc tuyên truyền, kích động của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị vẫn nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta; lợi dụng các vấn đề liên quan đến Biển Đông và chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam để bôi nhọ, hạ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với dân, công kích chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt những vấn đề liên quan đến quan hệ Việt Nam-Trung Quốc…

Thủ đoạn xuyên tạc sự thật, bóp méo, bôi đen nhằm mục đích lôi kéo, kích động những phần tử cực đoan, bất mãn, chống đối chế độ và những người nhẹ dạ, cả tin… nghi ngờ vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, không phải là chuyện mới trong hoạt động truyền thông của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này, sự tuyên truyền của họ diễn ra theo hệ thống từ trước, trong và sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đến nay, tạo nên một “chiến dịch” kích động, lôi kéo với mức độ ngày càng rầm rộ hơn. Cái cớ để họ bám vào nhiều nhất để thực hiện mưu đồ đen tối đó là vấn đề Biển Đông và việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Họ rêu rao rằng, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quân đội nhân dân Việt Nam “nhu nhược” trước các hành động gây hấn trên Biển Đông của Trung Quốc và kêu ầm lên “Tổ quốc lâm nguy”, kêu gọi, kích động người dân “Dậy mà đi”, xuống đường biểu tình quy mô lớn… Thậm chí một số cái loa của tổ chức phản động Việt Tân còn coi đây là thời cơ “ngàn năm có một” để xuống đường đấu tranh lật đổ chế độ(!).

Thực ra, những luận điệu xuyên tạc chẳng dễ làm cho người ta tin. Với “thế giới phẳng” hiện nay, bất cứ một người dân bình thường nào cũng dễ dàng tiếp cận các thông tin về quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến tranh chấp ở Biển Đông. Những hoạt động ngoại giao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quân đội ta trong thời gian qua nhằm giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông đã thể hiện rất rõ những nỗ lực và cố gắng của chúng ta trong giải quyết vấn đề khó khăn và phức tạp này. Sự xuyên tạc, lôi kéo của các phần tử cực đoan, chống đối đã không góp phần tích cực để giải quyết tình hình mà chỉ tạo thêm nghi ngờ, sự thiếu tin trong một bộ phận nhân dân, chia rẽ đoàn kết giữa Đảng, Quân đội với nhân dân, hạ thấp tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước.

Bài học máu thịt rút ra từ lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc ta đã cho thấy, chúng ta chỉ có thể bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nước khi chúng ta đoàn kết được toàn dân, dựa vào sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Mọi hành động dẫn đến chia rẽ, phá vỡ sự đoàn kết chỉ làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc mà thôi. Trong thời đại Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta phát huy cao nhất sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc giành thắng lợi vĩ đại trong cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị thực dân, phong kiến, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập tự do; lãnh đạo nhân dân ta tiến hành các cuộc kháng chiến chống xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Cũng chính Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ một xứ thuộc địa, nửa phong kiến, Việt Nam ta đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Tất cả là nhờ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã ghi nhớ và thực hiện lời dạy bất hủ của Bác Hồ: “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do” và “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Sự thật ấy ai có thể phủ nhận?

Ấy vậy mà bất chấp sự thật, bất chấp lịch sử, để hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, một số phương tiện truyền thông phản động ở nước ngoài đã trắng trợn đưa những câu chuyện đơm đặt, với giọng điệu hằn học, quy chụp vô căn cứ nhằm xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước ta trong các thời kỳ lịch sử, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Họ tung lên mạng những bài viết núp bóng “bình luận thời sự”, dựng “chân dung”. Và để tăng độ “hot” cho thông tin, cùng với các bài viết là những cuộc phỏng vấn mà người trả lời không ai khác chính là một số phần tử cực đoan, bất mãn trong nước cùng những kẻ núp bóng trí thức, học giả, “nhà nghiên cứu” ở hải ngoại. Cái mà họ gọi là “bằng chứng lịch sử” thực chất chỉ là sự bịa đặt, vu khống.

Không chịu nổi trò bóp méo, bôi đen này, ngay trên một số trang mạng ở hải ngoại cũng đã có nhiều bài viết phản ứng luồng thông tin nói trên. Đó là những trí thức, những kiều bào yêu nước chân chính. Với cái nhìn khách quan, các tác giả đã phân tích, đưa ra những dẫn chứng khoa học, lịch sử để phản bác những luận điệu xuyên tạc, kích động nói trên, thẳng thắn vạch mặt những kẻ cực đoan, cơ hội, lợi dụng truyền thông “mạng” để thực hiện mưu đồ đen tối.

Khách quan nhìn nhận, những kiểu “dương đông kích tây” của một số phương tiện truyền thông nước ngoài dù có thể khác về hình thức, quy mô, phương pháp tiến hành… nhưng về bản chất, nó vẫn là thứ “bổn cũ soạn lại”. Nó chỉ có thể đánh lừa nhận thức của một bộ phận những người nhẹ dạ, cả tin. Còn với đông đảo công chúng và những người yêu nước chân chính, trò bóp méo, bôi đen chỉ là những tiếng nói lạc lõng, vô cảm trước hiện thực xã hội sống động mà thôi. Nhân dân ta quá hiểu các thế lực thù địch muốn gì. Chúng muốn sự chia rẽ, trong khi hơn bao giờ hết chúng ta cần sự đoàn kết, đoàn kết sẽ đưa chúng ta đến thành công.

THANH KIM TÙNG

qdnd.vn

Tự hào Nhà nước của nhân dân

Tháng Chín 2, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND – 66 năm trước, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, dân chủ, tự do. Toàn thể dân tộc Việt Nam bắt tay xây dựng một Nhà nước kiểu mới – Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

66 năm qua, với tư cách người chủ thực sự của đất nước, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh đã lập nên những chiến công hiển hách trong công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Nhà nước ta, với tư cách là Nhà nước của nhân dân, đã làm tròn sứ mệnh vẻ vang của mình, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân. Nếu bình quân thời kỳ 1977-1980, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam mới chỉ đạt 0,4%/năm; thời kỳ 1977-1985 chỉ tăng 3,7%/năm; thời kỳ 1986-1990 cũng chỉ đạt 4,4%/năm thì bình quân thời kỳ 1991-2010 đạt xấp xỉ 7,4%/năm, thuộc loại cao trong khu vực, ở châu Á và trên thế giới. Quy mô kinh tế năm 2011 dự kiến cao hơn 2 lần năm 2000. Đến nay, Việt Nam đã ra khỏi nhóm nước thu nhập thấp để trở thành nước có thu nhập trung bình.

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập. Ảnh tư liệu/internet.

Tự hào là Nhà nước của nhân dân, song, chúng ta cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng, trong bộ máy Nhà nước vẫn còn có bộ phận chưa làm tròn trách nhiệm với nhân dân; có cá nhân chưa thực sự là công bộc của dân, vẫn dọa nạt, hách dịch, nhũng nhiễu nhân dân.

Thực tiễn cho thấy, để giữ vững độc lập dân tộc, bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, duy trì tăng trưởng kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cần phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam thực sự hội nhập toàn diện, sâu rộng với thế giới, càng phải chăm lo xây dựng Nhà nước pháp quyền, nâng cao năng lực điều hành, quản lý Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN và kỷ luật, kỷ cương, Nhà nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm lợi ích chính đáng của mọi người dân.

Với Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, điều tối thượng có tính nguyên tắc là quyền lực Nhà nước phải thực sự thuộc về nhân dân. Muốn vậy, cần phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng bộ máy chính quyền Nhà nước trong sạch, vững mạnh với đội ngũ cán bộ thực sự là công bộc của nhân dân, kiên quyết đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực trong bộ máy Nhà nước. Tăng cường công tác giám sát tối cao của Quốc hội, quyền giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời phát huy hơn nữa quyền giám sát của nhân dân với các cơ quan Nhà nước.

Sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Ðảng là nhiệm vụ then chốt không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân Ðảng, mà còn là yếu tố quan trọng đối với sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước. Cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước để vừa bảo đảm sự lãnh đạo của Ðảng, vừa phát huy vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước. Hoàn thiện cơ chế để nhân dân đóng góp ý kiến, phản biện xã hội và giám sát công việc của Đảng và Nhà nước.

Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong bộ máy Nhà nước, đồng thời cũng là công cụ của Nhà nước cách mạng để bảo vệ chế độ, bảo vệ Nhà nước. Cán bộ, chiến sĩ trong quân đội cần thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ kính yêu “Quân đội ta trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân”, đóng quân ở đâu cũng cần phối hợp chặt chẽ với các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương tham gia giúp đỡ nhân dân, góp phần xây dựng chính quyền địa phương trong sạch, vững mạnh để phục vụ nhân dân tốt hơn. Các đơn vị cần tích cực tham gia tuyên truyền, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở và gương mẫu chấp hành pháp luật của Nhà nước.

Các cựu chiến binh, cựu quân nhân cần phát huy truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, hăng hái và gương mẫu tham gia xây dựng, giám sát hoạt động của chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng của Nhà nước để Nhà nước ta thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng. Ðẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhân tố quan trọng để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

QĐND

qdnd.vn

Vạch trần những “lời kêu gọi”

Tháng Bảy 3, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND – Thành công của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 chính là câu trả lời đanh thép của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam trước âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Âm mưu kích động lật đổ bằng “lá phiếu” không thành, thời gian gần đây, một số phần tử lại rêu rao kêu gọi: “Cần đấu tranh để đưa những người ngoài đảng vào Quốc hội khóa sau, chống lại cơ chế “Đảng cử, dân bầu”. Quốc hội là của toàn dân, Đảng chỉ có 4 triệu đảng viên, tại sao lại “chiếm đa số” để kiểm soát Quốc hội”.

Để bóc trần những ẩn ý đằng sau lời kêu gọi “đưa thêm người ngoài đảng vào Quốc hội”, chúng tôi xin so sánh bằng thực tế bầu cử ở Mỹ – nơi mà những người “kêu gọi” thường coi như “thiên đường về tự do, dân chủ” – nơi mà các cuộc bầu cử luôn có sự tham gia của rất nhiều đảng phái và cả những người không thuộc đảng phái nào ở Mỹ. Lịch sử Thượng nghị viện và Hạ nghị viện nước Mỹ hàng trăm năm qua chỉ là sự luân phiên kiểm soát của hai đảng Dân chủ và Cộng hòa. Thực tế là có quá ít, quá hiếm những người đứng ngoài hai đảng trên trúng cử vào cơ quan quyền lực ở nước Mỹ, nhất là các vị trí then chốt trong chính quyền. Chính hai đảng này là người định ra “luật”, khi cần thì “bắt tay nhau” thiết kế các quy tắc bầu cử để bảo vệ sự độc quyền của hai đảng và chèn ép mọi con đường phát triển của các đảng phái chính trị khác cũng như những người muốn tham gia vào cơ quan quyền lực bằng tư cách ứng viên độc lập “ngoài đảng”. Chẳng hạn, pháp luật nước Mỹ quy định: Người ứng cử vào cơ quan quyền lực phải có lượng tài sản đủ lớn làm vật bảo đảm. Vậy quy định này liệu có là “cơ hội” để những người nghèo và tầng lớp trung lưu chiếm phần lớn trong xã hội Mỹ được tham gia vào cơ quan quyền lực cao nhất ở nước Mỹ hay không? Hơn nữa, dù là Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa nắm giữ quyền kiểm soát quốc hội thì họ vẫn “nhất nguyên về chính trị”, đó là trung thành với chủ nghĩa tư bản và các thể chế chính trị tư sản, ủng hộ mưu đồ “lãnh đạo toàn cầu” của Mỹ, phá hoại chủ nghĩa xã hội và xét đến cùng, họ đều là những đại diện trung thành cho các thế lực tư bản độc quyền.

Thực tế trên thế giới hiện nay cho thấy, không chỉ ở Mỹ mà ở mọi quốc gia, đảng cầm quyền luôn là đảng có đảng viên chiếm số đông trong quốc hội. Thậm chí, có rất nhiều quốc gia mặc dù thực hiện đa đảng nhưng chỉ có một đảng cầm quyền và đảng đó giành độc quyền kiểm soát quốc hội. Ở những quốc gia đa đảng này, một thực tế ai cũng nhận thấy là trước mỗi kỳ bầu cử quốc hội, các đảng đối lập chỉ ra sức phản đối đảng cầm quyền, chỉ trích cả những thành tựu của đảng cầm quyền, thậm chí bất chấp cả quyền lợi dân tộc và người dân. Hệ quả của sự đấu đá quyền lực đó, nhiều khi vì lợi ích cục bộ của từng đảng mà lợi ích và nguyện vọng chính đáng của cử tri, của nhân dân, của dân tộc… bị chính những người đứng đầu mỗi đảng phái bỏ qua.

Như vậy đã rõ, Đảng Cộng sản Việt Nam, trong quá trình vận động khách quan của lịch sử dân tộc được nhân dân tin tưởng trao quyền lãnh đạo đất nước, có số đảng viên chiếm số đông trong quốc hội là một lẽ thường tình. Điều quan trọng nhất là cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu HĐND các cấp vừa qua diễn ra đúng luật, khách quan, dân chủ, công khai được dư luận trong và ngoài nước đánh giá cao. Những người không trúng cử đều vui vẻ thừa nhận kết quả bầu cử bởi đó thực sự là ý chí và nguyện vọng của cử tri. Những người trúng cử thì nhận thấy rõ hơn trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trước Quốc hội và nhân dân. Kết quả bầu cử còn chứng tỏ một điều, mặc dù vẫn tồn tại không ít hạn chế, yếu kém nhưng Đảng và các đảng viên của Đảng vẫn nhận được sự tín nhiệm của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam; thể hiện sự tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong suy nghĩ và hành động của mỗi người dân Việt Nam.

Vấn đề đặt ra là với tỷ lệ đảng viên cao trong Quốc hội, phải làm thế nào để Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực cao nhất trong xã hội, thực sự là quốc hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Thực tiễn hoạt động của Quốc hội, đặc biệt là Quốc hội khóa XII vừa qua chính là một câu trả lời. Sự lãnh đạo của Đảng và vai trò của các đại biểu Quốc hội là đảng viên đã làm cho Quốc hội thể hiện đầy đủ hơn vai trò của mình trước đất nước và nhân dân. Trước những vấn đề quan trọng của đất nước, ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư là nội dung tham khảo quan trọng, kênh thông tin rất có giá trị để các đại biểu trao đổi, thảo luận đóng góp ý kiến và quyết định trước khi biểu quyết. Điều này cho thấy: Bộ Chính trị, Ban Bí thư không “quyết” thay Quốc hội. Thực tế, đã có những quyết định của Quốc hội khác với quyết nghị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đó là minh chứng hùng hồn cho vai trò cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước; đồng thời càng chứng tỏ Đảng Cộng sản Việt Nam tôn trọng và thực thi nguyên tắc tập trung dân chủ rất nghiêm túc, chặt chẽ. Để xây dựng đường lối lãnh đạo đất nước sát đúng, Đảng ta chủ trương phát huy trí tuệ của toàn dân tộc, các đại biểu Quốc hội và mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội đều có quyền tham gia góp ý vào dự thảo văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng. Từ xưa đến nay, chỉ có các đảng cầm quyền áp đặt ý chí của mình đối với quốc hội, chứ chưa có nước nào quốc hội có thể tham gia và tham gia rất hiệu quả vào việc xây dựng đường lối lãnh đạo của đảng cầm quyền. Thực tế đó ở Việt Nam chứng tỏ, chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng là cơ sở để phát huy vai trò của Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất; đồng thời, thông qua hoạt động của Quốc hội, đặc biệt là hoạt động của Chính phủ – cơ quan chấp hành của Quốc hội mà mọi chủ trương, đường lối của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực sinh động cho quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam.

Chúng ta không phủ nhận rằng, ở Việt Nam, vẫn chưa khắc phục triệt để tình trạng dân chủ hình thức và hoạt động của Quốc hội, của HĐND các cấp vẫn còn phải tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ hơn nữa. Tuy nhiên, những tồn tại và yếu kém hiện nay không bắt nguồn từ nguyên nhân tỷ lệ đảng viên chiếm số đông trong Quốc hội và HĐND các cấp. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng một lần nữa nhấn mạnh và khẳng định bài học kinh nghiệm: “Bảo đảm gắn kết chặt chẽ, hiệu quả giữa tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân”. Nhấn mạnh và khẳng định bài học “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, cũng có nghĩa là Đảng đã nhìn nhận ra được những hạn chế, yếu kém và kiên quyết khắc phục; sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình vì quyền lực và lợi ích của người dân lao động, vì một nền dân chủ rộng rãi cho mọi người. Mọi luận điệu “kêu gọi” xuyên tạc về nền dân chủ ở Việt Nam, xuyên tạc vai trò của Quốc hội sẽ bị chính người dân Việt Nam loại bỏ.

HỒNG HẢI

qdnd.vn

Thế trận lòng dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tháng Sáu 16, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND – Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ, một trong những nhiệm vụ trọng yếu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân là tập trung “Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc”.

Để xây dựng “thế trận lòng dân”, trước hết phải nhận thức rõ nội dung yếu tố lòng dân. Đây là vấn đề thuộc phạm trù ý thức xã hội, thường đi liền và đặt trong mối quan hệ với khái niệm đất nước, Tổ quốc, Nhà nước… Nội dung cơ bản của lòng dân là lòng yêu nước thương nòi, tinh thần đoàn kết dân tộc, ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; là lòng tin của nhân dân vào các chủ trương, chính sách, thể chế chính trị… của giai cấp lãnh đạo đất nước. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc cho thấy, các triều đại phong kiến tiến bộ rất coi trọng ban hành các chủ trương chính sách để “an dân”, quy tụ lòng dân, lấy dân làm gốc. Các chính sách đúng đắn đã quy tụ được lòng dân, phát huy được sức mạnh của toàn dân trong giành và giữ vững nền độc lập, thống nhất, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Ngày nay, quy tụ lòng dân, xây dựng “thế trận lòng dân” để đáp ứng yêu cầu tăng cường sức mạnh quốc phòng – an ninh (QP-AN), bảo vệ Tổ quốc chính là quá trình xây dựng nhân tố chính trị – tinh thần của nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, bảo đảm cho mọi tầng lớp nhân dân không chỉ yêu quý thiết tha chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc, mà còn gắn bó với Đảng, với chế độ XHCN; có ý thức tự giác về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi công dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Muốn vậy, phải tiến hành đồng bộ nhiều nội dung, giải pháp về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội và QP-AN… với sự tham gia tích cực của các cấp, ngành và mọi tầng lớp nhân dân.

Trước hết, xây dựng “thế trận lòng dân” là phải nâng cao nhận thức về tình hình nhiệm vụ QP-AN, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trong các tổ chức chính trị – xã hội và toàn dân. Thực tiễn trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cho thấy, nhờ làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục, thống nhất nhận thức và hành động của toàn dân, chúng ta đã phát huy cao nhất sức mạnh vật chất – tinh thần của toàn dân tộc, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh để đánh thắng kẻ thù xâm lược có sức mạnh và tiềm lực vượt trội, giành độc lập, thống nhất cho Tổ quốc. Trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay, cần tập trung củng cố, nâng cao chất lượng toàn diện các hoạt động thông tin, tuyên truyền, giáo dục, bảo đảm các thông tin chính thống của Đảng và Nhà nước, của các cấp ủy, chính quyền địa phương đến với các tầng lớp nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cần chú trọng nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc, chủ nghĩa yêu nước, truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc ta, truyền thống vẻ vang của Đảng, của Quân đội trong các tầng lớp nhân dân, nhất là trong thế hệ trẻ; rà soát, bổ sung kịp thời những phát triển mới về đường lối, quan điểm, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của Đảng vào giáo trình giảng dạy ở các cấp học; chú trọng tính hiệu quả của việc tổ chức học tập, tập huấn, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nội dung chương trình giáo dục, bồi dưỡng kiến thức QP-AN cho các đối tượng theo quy định và giáo dục quốc phòng toàn dân. Kết hợp chặt chẽ các hoạt động giáo dục với thông tin cập nhật tình hình trong nước và quốc tế, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong các tầng lớp nhân dân, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, mưu đồ tham vọng về biển, đảo thuộc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam của các thế lực trong và ngoài khu vực…

Có nhận thức đúng thì mới hành động đúng và ngược lại, song từ nhận thức đến hành động là cả một quá trình, đòi hỏi các cấp ủy đảng, chính quyền, các cơ quan thông tin tuyên truyền phải nghiên cứu, nắm vững nhu cầu thực tiễn, đặc điểm từng lĩnh vực, vùng miền; tâm lý và trình độ nhận thức của các tầng lớp nhân dân để xác định nội dung chương trình tổ chức học tập, quán triệt cũng như xác định nội dung, hình thức, biện pháp tổ chức thông tin tuyên truyền nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kiến thức về quân sự, quốc phòng… cho phù hợp, hiệu quả, tránh hình thức, giáo điều.

Chú trọng đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Tệ nạn tham nhũng ở nước ta đã và đang gây hậu quả nghiêm trọng tới sức mạnh của hệ thống chính trị, cản trở tốc độ phát triển kinh tế – xã hội, ảnh hưởng đến uy tín của đất nước trong quan hệ quốc tế, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với chế độ, trực tiếp ảnh hưởng đến “thế trận lòng dân”.

Để góp phần vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng một cách hiệu quả, cần tập trung nghiên cứu đổi mới tổ chức, thể chế hành chính. Xây dựng và làm cho bộ máy nhà nước ở nước ta thực sự trong sạch, vững mạnh cần gắn chặt với cải cách hành chính, chống tham nhũng, lãng phí bằng các biện pháp mạnh mẽ và quyết liệt. Cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng cơ chế đấu tranh phòng và chống tham nhũng hiệu quả, đồng bộ trong từng tổ chức, gắn chặt với cơ chế tổ chức, cơ chế hoạt động của Nhà nước, cơ chế thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; sớm nghiên cứu xây dựng cơ chế giám sát hoạt động giữa các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán, điều tra… trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Tổ chức thực hiện đầy đủ từng nội dung của quy chế cán bộ nhà nước công khai các hoạt động của mình tr­ước nhân dân (chứ không chỉ là trư­ớc đại biểu “lựa chọn” trong nhân dân) theo định kỳ, hoặc bất th­ường.

Bên cạnh đó, cần nghiên cứu đổi mới chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức nhà nước để họ yên tâm thực thi công vụ, không nhận hối lộ, không muốn hối lộ, toàn tâm góp sức vào phát triển kinh tế – xã hội; nếu vi phạm sẽ bị xử lý rất nghiêm và liên quan đến sự mất còn vị trí công việc để họ tự lựa chọn, bất luận họ là ai, giữ cương vị nào. Làm được như vậy, chúng ta mới thu hút được những tài năng thật sự vào làm việc trong khu vực hành chính nhà nước.

Về công tác tổ chức cán bộ, phải nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của nhiệm vụ then chốt, cấp bách là xây dựng các tổ chức đảng thực sự trong sạch vững mạnh mới có cơ sở để nâng cao chất lượng quản lý, giáo dục, rèn luyện, sàng lọc cán bộ, đảng viên phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Cần có những giải pháp kiên quyết để “thực hiện rõ, thực hiện đúng, thực hiện đến cùng chế độ trách nhiệm cá nhân”, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; kiện toàn các cơ quan, đơn vị chuyên trách và các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng, lãng phí đủ mạnh (tổ chức bộ máy, cán bộ, nguồn lực). Chú trọng phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị – xã hội, cơ quan báo chí và nhân dân trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; định hướng, tạo dư luận tích cực trong từng tổ chức, dư luận xã hội ủng hộ, bảo vệ, tôn vinh những cá nhân tiêu biểu trong việc phát giác, tố cáo, mạnh dạn đấu tranh phê phán các hành vi tiêu cực như tham nhũng, cơ hội, cục bộ, bè phái… trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị. Có như vậy mới khắc phục tận gốc nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ trong nội bộ, thiết thực củng cố xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh.

Tổ chức tốt cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng chính trị trong toàn dân. Chia rẽ dân với Đảng và Nhà nước là một thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch nhằm ly tán “lòng dân”. Để làm việc đó, chúng ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá trên tất cả các lĩnh vực, với hy vọng làm cho nhân dân mất lòng tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng, mục tiêu, lý tưởng của CNXH. Do đó, cần tập trung làm tốt việc nghiên cứu tổng kết lý luận và thực tiễn để khẳng định tính cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối đúng đắn, sáng tạo lãnh đạo công cuộc đổi mới của Đảng; lấy đó làm cơ sở để trang bị kiến thức chính trị – tư tưởng, tăng cường “thế trận lòng dân” đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch một cách tích cực, chủ động. Quá trình đấu tranh phải thường xuyên nghiên cứu nắm vững âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; lãnh đạo chỉ đạo tập trung thống nhất, tổ chức chặt chẽ lực lượng, phương tiện đấu tranh; phân rõ cấp độ, phạm vi đấu tranh cho các cấp, các ngành… có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận bảo vệ Đảng và chế độ XHCN.

Xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc luôn là nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu và xuyên suốt, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, nhằm tạo cơ sở nền tảng sức mạnh quân sự, quốc phòng của đất nước – nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đại tá Dương Văn Thực, Viện Chiến lược Quốc phòng, Bộ Quốc phòng

qdnd.vn

Thúc đẩy hợp tác toàn diện Việt Nam – Cam pu chia

Tháng Tư 22, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND – Chuyến thăm, làm việc của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Cam-pu-chia và đồng chủ trì Hội nghị xúc tiến đầu tư Việt Nam – Cam-pu-chia lần thứ hai, diễn ra trong hai ngày 23 và 24-4-2011, theo lời mời của Thủ tướng Cam-pu-chia Hun Xen, là chuyến công du đầu tiên của nhà lãnh đạo chính phủ ta ra nước ngoài kể từ sau thành công của Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự kiện này có ý nghĩa to lớn, khẳng định chính sách nhất quán của Việt Nam luôn coi trọng củng cố và tăng cường quan hệ với các nước láng giềng, trong đó có Cam-pu-chia; thể hiện quyết tâm của chính phủ và nhân dân Việt Nam cùng với chính phủ Hoàng gia và nhân dân Cam-pu-chia đưa quan hệ giữa hai nước lên tầm cao mới; thể hiện quan hệ tin cậy giữa lãnh đạo của hai nước.

Đây là dịp để hai bên đánh giá kết quả hợp tác đầu tư kể từ Hội nghị đầu tư lần thứ nhất, diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009; trao đổi các giải pháp và chính sách thúc đẩy mạnh mẽ hơn quan hệ hợp tác đầu tư, thương mại và du lịch giữa hai nước trong giai đoạn tiếp theo và ký kết những văn kiện hợp tác. Hội nghị xúc tiến đầu tư Việt Nam – Cam-pu-chia lần thứ hai diễn ra tại Phnôm Pênh khi quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống Việt Nam – Cam-pu-chia tiếp tục phát triển trên tất cả các lĩnh vực. Các cơ chế hợp tác Ủy ban hỗn hợp Việt Nam – Cam-pu-chia về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, Hội nghị hợp tác và phát triển các tỉnh biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia, Ủy ban liên hợp biên giới giữa hai nước được tiến hành thường niên, mang lại hiệu quả thiết thực. Hai bên thường xuyên tiến hành trao đổi các đoàn cấp cao trong khi hoạt động hợp tác giữa các cấp, bộ ngành và cấp địa phương, nhất là những địa phương có chung biên giới, diễn ra nhộn nhịp và đạt hiệu quả cao.

Cùng với sự phát triển tốt đẹp về chính trị, quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước phát triển mạnh mẽ. Kim ngạch thương mại hai chiều giữa hai nước năm 2009 đạt 1,33 tỷ USD, năm 2010 đạt 1,8 tỷ USD. Hiện Việt Nam có 89 dự án đầu tư trực tiếp vào Cam-pu-chia với tổng số vốn đầu tư đạt hơn 2 tỷ USD. Các dự án đầu tư của Việt Nam sang Cam-pu-chia tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực trồng cây cao su, khai thác khoáng sản, thăm dò, tìm kiếm và kinh doanh sản phẩm dầu khí, phát triển nguồn điện, viễn thông, tài chính-ngân hàng…

Các mối quan hệ về quốc phòng-an ninh được duy trì và đẩy mạnh. Hai bên phối hợp giải quyết tốt những vấn đề phát sinh trên biên giới đất liền và trên biển. Lãnh đạo hai nước khẳng định quyết tâm sẽ hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên bộ trong năm 2012 nhằm xây dựng một đường biên giới chung hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển, trên cơ sở phù hợp với truyền thống, phong tục tập quán của nhân dân hai nước. Hợp tác giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học- kỹ thuật và hợp tác giữa các địa phương biên giới được hai bên coi trọng và tiếp tục thúc đẩy. Hợp tác giữa các địa phương, nhất là các tỉnh giáp biên và các tỉnh, thành phố có quan hệ kết nghĩa cũng đang được đẩy mạnh. Hai nước tổ chức hiệu quả Hội nghị hợp tác và phát triển các tỉnh biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia ở cấp Phó thủ tướng và Hội nghị phát triển thương mại biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia ở cấp Bộ trưởng Công Thương/Thương mại. Hợp tác trên các lĩnh vực giáo dục-đào tạo, năng lượng, y tế, giao thông-vận tải được triển khai mạnh mẽ. Ngoài ra, hai bên duy trì tốt hợp tác trong khuôn khổ ASEAN cũng như tăng cường hợp tác trong các cơ chế hợp tác khu vực và quốc tế.

Hai nước đã xác lập khuôn khổ quan hệ hợp tác “Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” dựa trên những nguyên tắc “Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực; không cho phép bất cứ lực lượng chính trị, quân sự nào dùng lãnh thổ của mình chống lại nước kia; hợp tác bình đẳng cùng có lợi; giải quyết mọi vấn đề nảy sinh giữa hai nước bằng con đường thương lượng hòa bình, vì lợi ích của nhân dân mỗi nước, vì hòa bình và phát triển ở Đông Nam Á và trên thế giới.

Không ngừng duy trì và phát triển mối quan hệ hữu nghị truyền thống và thúc đẩy sự hợp tác toàn diện giữa hai nước là nguyện vọng chung của hai dân tộc. Chuyến thăm, làm việc của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Cam-pu-chia lần này sẽ góp phần đưa quan hệ Việt Nam – Cam-pu-chia phát triển sâu, rộng hơn nữa vì lợi ích của hai dân tộc, vì hòa bình và phát triển.

Quân đội Nhân dân

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.